Trang nhất » Chi hội HC » Tài liệu tra cứu » Trị liệu bằng Đông Y » H

CHI HỘI ĐÔNG Y HC

Tin tổng hợp

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 25


Hôm nayHôm nay : 1009

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3194

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3328775

ĐẶC KHU-CƠ TRỊ LIỆU

Thư viện HC

BÀI 1 BỆNH CAO HUYẾT ÁP

Thứ ba - 26/02/2019 18:14
BÀI 1  BỆNH CAO HUYẾT ÁP

Cao huyết áp có thể phân làm hai loại Nguyên phát tính và Kế phát tính, cái sau là do bệnh tật khác như thận tạng, nội tiết, bệnh biến trong hộp sọ dẫn đến một loại chứng trạng mà không phải là một bệnh tật độc lập; Cái trước thì gọi là bệnh cao huyết áp, là một loại bệnh tật tim mạch toàn thân mãn tính, thuộc phạm trù "đầu đau”, “huyễn vận”, “can dương”, cùng với “tim hồi lập”,  “trúng phong” có quan hệ nhất định.
Nguyên nhân phát bệnh là âm dương trong cơ thể mất điều hoà cân bằng, lại thêm căng thẳng thần kinh kéo dài, lo nghĩ buồn giận hoặc quá ham ăn cay béo đậm đà, mà đưa đến tâm can dương cang hoặc can thận âm hư, hai cái đó giúp nhau làm nhân quả, lại có thể phát sinh hoá hoả, động phong, sinh đàm là biến hoá bệnh lý.
Nói chung thời kỳ đầu thường lệch về dương cang; Thời kỳ giữa thường thuộc âm hư dương cang, hư thực tán tạp; Thời kỳ cuối thường thấy âm hư, qúa lắm thì âm thương tới dương hoặc lấy dương hư làm chủ.

YẾU ĐIỂM CHẨN TRA
1. Chứng trạng thường thấy có: Đầu mờ tối, đầu đau, đầu căng, huyễn vận, tai ù, tim hoảng, tứ chi tê dại, mặt đỏ, vật vã, mất ngủ.
2. Huyết áp ở trên cột thuỷ ngân 140/90 mmHg
3. Quá trình bệnh lâu dài, xuất hiện tâm hoảng, tâm hồi hộp, hơi thở gấp hoặc đêm đến hô hấp khó khăn là thời chứng, phải kiểm tra tâm tạng. Nếu tâm tạng to rộng về hướng trái, vùng mỏm tim có tiếng thổi tâm thu tạp âm, phân biệt động mạch chủ âm thứ hai cang tiến, rõ ràng là đưa ra bệnh huyết áp tâm tạng.
4. Nếu phát hiện đột nhiên huyết áp lên cao kèm theo các chứng trạng đầu đau dữ dội, đầu xoay, quặn tâm, nôn mửa, ý thức trở ngại, co quắp hoặc liệt nửa người tạm thời (tự nhiên rất nhanh), mất tiếng, rõ ràng đưa ra huyết áp cao của bệnh não (tức là hình ảnh nguy của huyết áp cao), bệnh tình nghiêm trọng.

I.PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU BẰNG THUỐC ĐÔNG Y:

Biện chứng về bệnh này đầu tiên phải phân biệt tiêu bản hư thực, tiêu thực là phong dương thượng cang, trị thì lấy dìm dương dẹp phong làm chủ, kèm bên có đàm hoả thì lấy giúp thêm thanh hoả hoá đàm; Bản hư phần nhiều là can thận âm hư, trị thì lấy tư dưỡng can thận làm chủ, khi cần thiết phải kiêm trị tiêu bản; Nếu âm hư tới dương, lại cần chú ý bổ dương.
1.1. Phong dương thương cang:
Đầu xoay, hoa mắt, tai ù, đỉnh đầu và thái dương co giật, đầu nặng chân nhẹ, bắp thịt nhảy động, bàn tay run, môi lưỡi và chi thể tê như gỗ, hoặc có co quắp chân tay, cứng gáy, tiếng nói không lợi, rêu lưỡi trắng mỏng, đầu lưỡi hồng, mạch huyền hoặc kình.
* (T.K.B.T.Y.S.T.S)
Phép chữa: Dìm dương  dẹp phong.
Bài thuốc làm ví dụ: Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm.
Thiên ma  1,5đ/c    Câu đằng 4 đ/c(hậu hạ)
Bạch tật lê  4 đ/c    Cúc hoa  3 đ/c
Hạ khô thảo  5 đ/c    Hy thiêm thảo             3 đ/c
Sú ngô đồng  3 đ/c    Địa long  3 đ/c
Trân châu mẫu  1 lạng  hoặc               Thạch quyết minh  5 đ/c
Sinh mẫu lệ   1 lạng
Gia giảm:
- Nếu đầu đau rất dữ dội, mắt đỏ, mặt đỏ, phiền thao, dễ cáu, miệng đắng, rêu lưỡi vàng, bỏ: Hy thiêm thảo, Sú ngô đồng phối Long đảm thảo 1,5 đ/c, Hoàng cầm 3 đ/c, Đan bì 3 đ/c. Hoặc uống riêng Linh dương phấn mỗi lần 1 phân, một ngày 2 lần.
- Nếu thể kéo nhiều đờm, đầu huyễn tối nặng, chi thể nặng mà tê cấu không biết đau, rêu lưỡi trơn, bỏ: Mẫu lệ, Trân châu mẫu, phối thêm Trần đảm tinh 1,5 đ/c, Trúc nhự, Trúc lịch, Bán hạ, Cương tàm mỗi thứ 3 đ/c, Quất hồng 1,5 đ/c.
* Hoặc (T.B.T.Y.H.K.Y)
Cách chữa: Thạch quyết câu đằng ẩm.
Thạch quyết minh 1 lạng    Mẫu lệ             1 lạng
Câu đằng  4 đ/c    Bạch thược 4 đ/c
Cúc hoa  3 đ/c    Phục linh 3 đ/c
Ngưu tất  5 đ/c
Gia giảm:
- Nếu đầu đau rất nặng, gia Mạn kinh tử 3 đ/c, Cúc hoa 3 đ/c. Mất ngủ có thể gia Toan táo nhân 4 đ/c, Bá tử nhân 4 đ/c.
- Thiên về dương cang, có thể trong hai phương trên gia nặng lượng Thạch quyết minh, Mẫu lệ, Long cốt, Từ thạch.
- Nếu dương cang hoá hoả, cang hoả thiên thịnh, có thể dùng Long đảm tả can thang bỏ Sài hồ, Đương quy, gia Thạch quyết minh 1 lạng, Mẫu lệ 1 lạng, Ngưu tất 5 đ/c. Mỗi ngày 1 tễ, phân làm 2 lần uống.
- Nghiên về âm hư, có thể dùng Chấn can tức phong thang mỗi ngày 1 tễ, chia làm hai lần uống. Bàn tay run rẩy, gia Địa long 2 đ/c, Câu đằng 3 đ/c; Tay chân tê như gỗ, gia Hy thiêm thảo 1 lạng; Đảm cố thuần cao (mật đậm đặc thang nữa), gia Hoè hoa 4 đ/c.
Hoặc dùng Hà đầu ô thang (Hà đầu ô, Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất, Hắc chi ma, Hạn liên thảo, mỗi thứ 4 đ/c, Hy thiêm thảo 5 đ/c, Thỏ ty tử, Trinh nữ tử mỗi thứ 3 đ/c). Mất ngủ có thể gia Dạ giao đằng 5 đ/c; Tim hồi hộp gia bá tử nhân, Toan táo nhân mỗi thứ 3 đ/c. Hoặc dùng Lục vị địa hoàng hoàn uống để củng cố kết quả chữa.
1.1.1 Can dương thượng cang: (G.M.T.Y.H)
Xử phương:
Tang ký sinh             1 lạng    Câu đằng   8 đ/c
Cúc hoa  3 đ/c    Mộc hương   5 đ/c
Hạ khô thảo   5 đ/c    Bạch tật lê  4 đ/c
Hoàng cầm   3 đ/c    Sinh long cốt             1 lạng
Sinh mẫu lệ  1 lạng
Sắc nước uống.
Gia giảm:
- Miệng khô lưỡi táo, gia Nguyên sâm 5 đ/c, Sinh địa 5 đ/c
- Huyễn vận tệ hại, gia Sinh thạch quyết minh 1 lạng
- Mất ngủ, gia Dạ giao đằng 8 đ/c
- Tim đập mạnh, gia Trân châu mẫu 1 lạng
- Phiền thao dễ cáu, gia Long đảm thảo 3 đ/c
- Đảm cố thuần cao, gia Hoè mễ 1 lạng.
1.1.2.Âm hư dương cang:
Xử phương:
Câu đằng  1 lạng    Tang thầm tử            1 lạng
Sinh địa  5 đ/c    Từ thạch  5 đ/c
Cau kỷ tử  4 đ/c    Sinh long cốt             1lạng
Sinh mẫu lệ  1 lạng
Sắc nước uống.
Gia giảm:
- Hai bàn tay rung động, gia Địa long 3 đ/c, Toàn yết 2 đ/c
- Phiền thao dễ cáu, gia Long đảm thảo 3 đ/c
- Âm hư nhiều, gia Nguyên sâm 1 lạng, Thạch hộc 5 đ/c
- Tay chân tê như gỗ, gia Hy thiêm thảo 4 đ/c
- Huyễn vận rất nhiều, gia Hạ khô thảo 8 đ/c, Thanh mộc hương 3 đ/c

1.2.Can thận âm hư hình:
Có đầu tối đầu đau, huyễn vận, tai ù, mắt hoa, nhìn vật không rõ, tâm hoảng dễ sợ, mất ngủ nhiều mộng, lưng đùi buốt, mềm hoặc có di tinh, hình gày miệng khô, mặt đỏ hoả bốc lên, chất lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế huyền sác.
Phép chữa: Tư dưỡng can thận. (T.K.B.T.Y.L.S.T.S)
Bài thuốc làm ví dụ: Phức phương đầu ô hoàn gia giảm
Chế đầu ô  5 đ/c    Đại sinh địa  4 đ/c
Câu kỷ tử  3 đ/c    Tang thậm tử             3 đ/c
Quy bản   5 đ/c    Tang ký sinh            5 đ/c
Đỗ trọng  3 đ/c    Mẫu lệ              1 lạng
Linh từ thạch             5 đ/c
Gia giảm:
- Tâm hoảng dễ sợ, mất ngủ rất nhiều, có thể gia sao Táo nhân 3 đ/c, Bá tử nhân 3 đ/c, Đan sâm 3 đ/c.
- Nếu âm hư cập dương, kiêm thấy sắc mặt trắng bợt, chi dưới buốt mềm, đái đêm nhiều hoặc có liệt dương hoạt tinh, mạch trầm tế, chất lưỡi hồng nhạt, nên nuôi âm trợ dương, thêm Tiên mao 3 đ/c, Tiên linh tỳ 3 đ/c, Ba kích thiên 3 đ/c, Nhục thung dung 3 đ/c, Thục địa 3 đ/c, (Thù) Du nhục 3 đ/c
- Âm hư không rõ rệt, bỏ Đại sinh địa, Quy bản.
- Mặt và chân phù thũng, bỏ Quy bản, Tinh từ thạch phối với Hoàng kỳ 3 đ/c, Bạch truật 3 đ/c, Phòng kỷ 3 đ/c
- Hình hàn chi lạnh rất rõ rệt, lại gia Chế Phụ tử phiến 1,5 đ/c, Nhục quế 1 đ/c.
*(G.M.T.Y.H):
Xử phương:
Tang ký sinh      8 đ/c    Sinh từ thạch             1 lạng
Hà đầu ô   5 đ/c    Nữ trinh tử  5 đ/c
Sinh long cốt             5 đ/c    Sinh mẫu lệ  5 đ/c
Sơn du nhục  6 đ/c    Đỗ trọng  4 đ/c
Ngưu tất  4 đ/c
Sắc nước uống.
Gia giảm:
- Đêm đái nhiều lần, gia Hoàng kỳ 3 đ/c, Phúc bồn tử 3 đ/c
- Nếu người bệnh có bệnh đái đường, thêm uống Lục vị địa hoàng hoàn, hoặc thêm Hoàng liên 2 đ/c, Câu đằng 1 lạng.
1.3.Âm dương lưỡng hư hình. (T.B.T.Y.H.K.Y)
Bài thuốc:
- Âm dương lưỡng hư có thể dùng Phụ quế bát vị hoàn mỗi ngày uống 2 đ/c, một ngày 2 lần. Hoặc dùng Dục âm trợ dương thang: Thục địa hoàng, Ngưu tất, Đỗ trọng mỗi thứ 4 đ/c; Sơn du nhục, Cẩu tích, Tục đoạn mỗi thứ 3 đ/c; Hoài sơn dược 5 đ/c, Nhục quế 5 phân -1 đ/c. Nếu như đái đêm nhiều, gia Hoàng kỳ, Phúc bồn tử mỗi thứ 4 đ/c
- Lệch về dương hư, có thể dùng: Đẳng sâm, Phục linh, Tang phiêu tiêu, Dâm dương hoắc mỗi thứ 3 đ/c, Bạch truật 3 đ/c, Sơn thù nhục 3 đ/c, nặng thì có thể dùng Chân vũ thang.
- Lệch về âm hư, chiếu thêm hình trên để thí trị.
Ngoài đó ra, gắn với chữa bệnh này  phải có mấy vấn đề dưới đây:
* Một số ít người bệnh huyết áp cao có kèm ăn uống không tốt, miệng đắng mất ngủ, rêu lưỡi vàng trơn là trường vị có nhiệt, trước hết nên hoà vị thanh nhiệt, tiêu thực an thần, có thể uống Ôn đảm thang, liệu chứng thêm Hoàng liên hoặc một số vị thuốc bình can tức phong tiềm dương, thường thường thu hiệu quả tốt.
* Một số ít người bệnh huyết áp cao có kèm tim đập mạnh, tim hoảng, ngực buồn bằn, sau khi làm mệt thì ngắn hơi, thường thuộc bệnh tâm tạng, có tính cao huyết áp, trị thì nên bổ tâm huyết, an tâm thần, dùng phương Toan táo nhân thang, hoặc Chích cam thảo thang gia giảm:
Chích cam thảo  3 - 4 đ/c    Đẳng sâm  4- 5 đ/c
A giao              3 - 4 đ/c (làm lỏng hoá)  Sinh địa hoàng  3-4 đ/c
Quế chi  2 - 3 đ/c    Mạch đông   3 - 4 đ/c
Từ thạch  4 - 6 đ/c
Vùng ngực buồn bằn có thể gia Toàn qua lâu 4 - 6 đ/c, Ung bạch 2 - 3 đ/c
* Một số ít người bệnh huyết áp cao có khi đột nhiên huyết áp lên cao rất nhanh dữ dội, đau đầu kịch liệt, tim thổn thức thở gấp, đầu nặng chân nhẹ, chi thể tê như gỗ, thịt ở quanh mắt co giật, phiền thao, ngực buồn bằn, lưỡi thường có rêu trắng, mạch huyền tế là can dương cang rất nhiều, dẫn động can phong, tương đương hình ảnh nguy của cao huyết áp hoặc bệnh não cao huyết áp, lúc này vẫn có thể dùng Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm để bình can tức phong tiềm dương và dùng nặng Thạch quyết minh, Mẫu lệ, Long cốt, Từ thạch là thuốc trọng trấn, cho tới Thiên ma, Câu đằng, Linh dương giác cốt là thuốc tức phong, đồng thời lại có thể phối hợp tây y trị liệu. Nếu như phát triển làm trúng phong (tai biến mạch máu não), có thể xem thêm cách chữa trúng gió.
* Một số phụ nữ huyết áp cao có kèm kinh nguyệt không đều, đau bụng khi hành kinh, nhiều khí hư trắng, ngực buồn bằn phiền thao, sốt triều ngày đêm, bụng dưới quặn ở trong, môi khô miệng táo, mạch huyền tế hoặc trầm tế đó là xung nhâm không điều, trị thì lấy dưỡng huyết giải uất  điều kinh làm chủ, dùng phương Tiêu dao tán hoặc Đương quy thược dược tán:
Đương quy  3 - 4 đ/c   Bạch thược 4 - 5 đ/c
Xuyên khung             2 đ/c    Phục linh 3 - 4 đ/c
Bạch truật  3- 4 đ/c   Trạch tả 2 - 4 đ/c
*(G.M.T.Y.H) 
Xử phương:
Đương quy  4 đ/c    Hoàng bá    3 đ/c
Đẳng sâm  4 đ/c    A giao                5 đ/c
Sinh từ thạch            1 lạng    Quế chi     3 đ/c
Tri mẫu  3 đ/c    Chích cam thảo  2 đ/c
Sắc nước uống
Gia giảm:
- Tiêu chảy, gia Phục linh 5 đ/c, Bạch truật 3 đ/c
- Liệt dương, gia Dâm dương hoắc 3 đ/c, Ngũ vị tử 3 đ/c, Kim anh tử 4 đ/c
II. PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU BẰNG CHÂM CỨU:
* (T.K.B.T.YL.S.T.S)
Thể châm: Phong trì, Khúc trì, Dương lăng tuyền, Hành gian.
* (T.B.T.Y.H.K.Y)
Lấy huyệt: Phong trì, Khúc trì, Túc tam lý, Giáng áp điểm (tân huyệt, Đại chuỳ sang mỗi bên 2 thốn), Thái xung đều có tác dụng giáng áp, mỗi lần có thể chọn 1 - 2 huyệt chủ. Huyệt phối có thể dùng  dựa vào đối chứng lấy huyệt, như đầu đau, đầu say có thể lấy Ấn đường, Thái dương, Thiên trụ, Bách hội, Can dương thiên thắng thì lấy Thái xung, Dũng tuyền. Mất ngủ, nhiều mộng lấy Nội quan, Thần môn, An miên 2, Can thận âm hư có thể cứu Thận du, Can du, Thái khê, mỗi ngày 1 lần, 15 - 20 lần làm 1 liệu trình, thủ pháp dùng mức kích thích vừa.

Tác giả bài viết: Lê Văn Sửu dịch

Nguồn tin: Chi hội Đông Y HC

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
.

Thông tin tại Website chỉ mang tính chất tham khảo, việc dùng thuốc và chữa bệnh phải tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ