Trang nhất » Chi hội HC » Tài liệu tra cứu » Bài thuốc » G

CHI HỘI ĐÔNG Y HC

Tin tổng hợp

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 13


Hôm nayHôm nay : 472

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3478

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3477514

ĐẶC KHU-CƠ TRỊ LIỆU

Thư viện HC

THUỐC GIẢI BIỂU

Thứ năm - 12/12/2019 09:12
Thuốc giải biểu còn gọi là thuốc phát biểu, có tác dụng sơ tiết tấu lý, tuyên thông phế vệ, phát tán ngoại tà để mồ hôi có thể giải ra, chữa tà ngoại cảm xâm nhập vào vệ biểu thân thể con người thường biểu hiện sợ lạnh, phát nhiệt, đầu đau, mũi tịt, rêu lưỡi mỏng, mạch phù.
Thuốc giải biểu dùng các vị thuốc tân tán phát biểu, tùy theo dược tính có thể phân làm 2 loại tân ôn giải biểu và tân lương giải biểu.
Thuốc tân ôn giải biểu là dùng các vị thuốc tính cay ấm để giải biểu, thường dùng các vị Khương hoạt, Phòng phong, Kinh giới, Tế tân, Tô diệp, Hương nhu, Hành trắng, Sinh khương v.v…
Bài Kinh phòng, bài Độc tán là bài thuốc tiêu biểu thường dùng để giải biểu tân ôn. Tác dụng chủ yếu của nó là dùng vị thuốc phát biểu có tính cay ấm để phát tán phong hàn, khai thông tấu lý, đạt tới mục đích giải trừ biểu chứng thường dùng trị chứng biểu hàn do phong hàn bên ngoài thúc ép vào phế vệ, bài thuốc tân lương giải biểu là dùng các vị thuốc có tính cay mát để phát biểu như Đậu cổ (Đậu xị), Ngưu bàng tử, Cát căn, Phù bình, Tang diệp. Bài Ngân kiều tán là bài thuốc tiêu biểu thường dùng các vị thuốc tân lương để giải biểu. Tác dụng chủ yếu của nó là dùng các vị thuốc tân lương phát biểu để tán phong thanh nhiệt, sơ tiết tấu lý thường dùng chữa chứng biểu nhiệt do phong nhiệt nhập vào phế vệ. Do đó ta thấy phân biệt giữa tân ôn giải biểu và tân lương giải biểu chỉ ở chỗ dùng thuốc giải biểu có tính tân ôn hoặc tính tân lương mà thôi. Nhìn về tác dụng giải biểu mà nói, thì bài thuốc tân ôn tán hàn, phát hãn mạnh hơn còn tác dụng thanh nhiệt yếu hơn; còn bài thuốc tân lương thì phát hãn ít hơn mà thanh nhiệt mạnh hơn, theo các sách thuốc xưa để lại thì phân biệt giữa tân ôn và tân lương rất nghiêm ngặt vì cho rằng phong hàn phải dùng tân ôn, còn phong nhiệt phải dùng tân lương. Nhưng ngày nay qua thực tiễn chữa bệnh, phần lớn dùng cả tân ôn cùng tân lương mà kết quả thu được lại  vừa lòng. Như chữa bệnh lưu cảm, đường hô hấp trên cảm nhiễm thường dùng bài Khương bàng bồ bạc thang là dùng cả Khương hoạt tân ôn và Ngưu bàng, Bạc hà tân lương để phát tán ngoại tà, giải  trừ biểu chứng.
Trong bài thuốc giải biểu thường dùng các vị thuốc tuyên phế, thanh nhiệt, hóa thấp để thích ứng với các chứng bệnh ngoại cảm nhiệt mà lúc ban đầu không đồng thời biểu hiện ra.
Vị thuốc thường dùng để tuyên phế trong bài giải biểu là Ma hoàng, Hạnh nhân, Tiền hồ, Kiết cánh; tác dụng chủ yếu của nó là tuyên thông phế khí sau khi ghép với các vị giải biểu thì tăng thêm khai phát tấu lý, khu tà ngoại xuất. Ví như bài Kinh phòng bại độc tán, Ngân kiều tán phối dùng Kiết cánh là có ý nghĩa như vậy.
Trong bài giải biểu, vị thuốc thường dùng thanh nhiệt giải độc là Ngân hoa, Liên kiều, Bản lam căn, Bồ công anh, đó là phương pháp ghép vị (phối ngũ) chủ yếu trong bài tân lương giải biểu. Ví như trong bài Ngân kiều tán lấy Ngân hoa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc ghép với Đậu cổ, Ngưu vàng, Kinh giới, Bạc hà mà trở thành bài thuốc điển hình giải biểu thanh nhiệt.
Trong bài giải biểu thường dùng các vị hóa thấp như Hậu phác, Hoắc hương, nó thích hợp với chứng ngoại cảm biểu mà lại có triệu chứng thấp nhập bên trong (như ngực tức buồn nôn, rêu lưỡi dày nhờn để hóa thấp bên trong mà dễ giải biểu tà bên ngoài. Về mùa hạ thường dùng bài Hương nhu ẩm, lấy Hậu phác có tính khổ ôn (đắng ấm) táo thấp ghép với Hương nhu trục thử giải biểu, đó là một trong những phương pháp ghép vị.
Cách sắc thuốc giải biểu, thường theo nguyên tắc ngâm nhiều đun ít là vì vị thuốc giải biểu thường có mùi thơm thanh thoảng, đun sắc lâu quá dễ bị bay hơi, có vị như Bạc hà có thể cho vào sau (tức là sau khi đã sắc thuốc sôi rồi mới cho vị đó vào, đun sôi trào lên 3-5 lần là được). Lúc uống  thuốc giải biểu nên uống nóng, uống thêm nhiều nước sôi, để mồ hôi ra vừa phải.


BÀI XUNG CỔ THANG
(Phụ: Xung dầu nhũ, Xung khương hồng đường thang)
« Xạ hậu phương »
Thành phần:
1. Xung bạch đầu (Liên tu): 3-7 cái, chừng 12-16 gam
2. Đậu cổ: 12-20 gam

Cách dùng: Sắc lấy nước uống. Bệnh nhẹ ngày uống một thang, chia làm 2 lần uống, bệnh nặng ngày uống 2 thang chia làm 4 lần uống.
Công dụng: Tuyên thông vệ khí thấu phát biểu tà, phát tán phong hàn, phát hãn thoái nhiệt.
Chữa chứng bệnh: Thương phong, cảm mạo mới bắt đầu của biến chứng. Sợ lạnh, phát nhiệt, không ra mồ hôi, đầu đau, xương mỏi, ho, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù sác.
Giải bài thuốc:
Xung bạch tân ôn, có tác dụng thông dương phát tán. Đậu cổ phát hãn thấu biểu, trừ phiền thoái nhiệt.
Tính chất bài thuốc bình hòa, trong khi chữa thường ghép các vị giải biểu khác và các vị tuyên phế hóa thấp, dùng chữa bệnh ngoại cảm nhiệt ban đầu.
Cách gia giảm:
Người bệnh sợ lạnh, không ra mồ hôi, đầu đau, xương mỏi thường gia thêm các vị Khương hoạt, Kinh giới, Phòng phong, Bạc hà để tăng thêm tác dụng thấu biểu đạt tà;
Người bệnh phát nhiệt, miệng đắng, họng đau, hạt họng sưng đau, lưỡi đỏ hoặc rêu vàng biểu hiện rõ chứng lý nhiệt thường gia thêm các vị Sơn chi, Hoàng cầm, Ngân hoa, Liên kiều, Bản lam căn, Bồ công anh để thanh nhiệt giải độc trở thành bài thanh nhiệt giải độc;
Người bệnh ho khạc đờm không ra được, tiếng nói ồ ồ, biểu hiệu rõ phế khí không tuyên thông thường gia các vị Ngưu bàng, Tiền hồ, Thiền y, Bạc hà, Kiết cánh, Tượng bối, Hạnh nhân để tuyên thông phế khí, giúp cho khu tán biểu tà;
Ngực buồn mệt mỏi, bụng đầy, miệng nhạt, miệng dính, rêu lưỡi dày nhờn thường gia thêm các vị Hoắc hương, Sa nhân, Khấu nhân, Dĩ nhân, Hoạt thạch, Phục linh, Trần bì, Bán hạ, Chỉ xác, Hậu phác để hóa thấp, lợi thấp mà trở thành bài trừ thấp giải biểu.

Bài thuốc phụ:

1. Xung đầu nhũ:
1. Dùng Xung bạch đầu (Liên tu) 3-5 cái
2. Một ít sữa người
Đun cách thủy lên.
Dân gian thường dùng chữa trẻ con cảm mạo phát nhiệt.


2. Xung khương hồng đường thang:
1. Xung bạch đầu (Liên tu) 3-7 cái
2. Gừng sống (bỏ vỏ) 3-5 lát
Đun sắc xong cho vào ít đường đỏ, uống nóng ra mồ hôi. Dân gian thường dùng chữa cảm mạo, cảm lạnh đau bụng.






Thành phần:

KINH PHONG BẠI ĐỘC TÁN
« Nhiếp sinh chúng diệu phương »

1. Kinh giới 12 gam
2. Khương hoạt 12-30 gam
3. Xuyên khung 8 gam
4. Kiết cánh 8 gam
5. Phục linh 12 gam

6. Độc hoạt 12 gam
7. Sài bồ 12 gam
8. Tiền hồ 8 gam
9. Chỉ xác 8 gam
10. Cam thảo 4 gam

Cách dùng: Nguyên là bài thuốc tán, mỗi lần uống 5 gam đến một lạng, thêm Gừng sống (bỏ vỏ) 3-5 lát, lá Bạc hà sắc lên, chia uống 2 lần. Hiện nay thường dùng làm thuốc thang bệnh nhẹ uống một thang sắc lên chia 2 lần uống, bệnh nặng dùng 2 thang, sắc lên chia 4 lần uống.
Công dụng: Phát tán phong hàn, thoái nhiệt chỉ thống.
Chữa chứng bệnh: Lưu cảm, cảm mạo thuộc bệnh ngoại cảm nhiệt mới phát ở chứng biểu hàn như sợ lạnh, phát nhiệt đầu đau như búa bổ, cơ bắp đau nhừ, không ra mồ hôi, mũi tịt, lưỡi trắng, mạch phù. Ngoài ra đốt xương đau nhức, mụn nhọt mới sưng mà có chứng biểu hàn cũng dùng bài thuốc này.
Giải bài thuốc: Bài này dùng Khương hoạt, Kinh giới, Phòng phong để tán ôn giải biểu, phát tán phong hàn ghép thêm Độc hoạt để ôn thông kinh lạc, Xuyên khung để hoạt huyết khu phong nhằm chữa bệnh ngoại cảm nặng đầu đau, xương nhức, cơ bắp rã rời. Đồng thời, bài này còn dùng Sài hồ để giải cơ thanh nhiệt. Bạc hà để sơ tán phong nhiệt nên có tác dụng thoái nhiệt giải biểu mạnh. Trong bài còn dùng Tiền hồ, Kiết cánh để thanh tuyên phế khí, Chỉ xác để khoan trung lý khí, Phục linh để lợi thấp nên bài này còn có tác dụng thanh phế, sướng trung, lợi thấp.
Cách gia giảm: Nói chung chứng biểu hàn đều dùng cả bài, không cần gia giảm; hoặc chỉ dùng Khương hoạt, Độc hoạt, Kinh giới, Phòng phong thêm Tô điệp để tạo thành bài tân ôn giải biểu cũng có hiệu quả nhất định. Nếu ngoại cảm, biểu hàn mà cơ bắp, đốt xương đau không rõ rệt có thể bỏ bớt Độc hoạt; nếu ngực buồn bực có thể bỏ Cam thảo mà thêm Trúc nhự tẩm nước gừng sao; nếu biểu hàn lộ rõ (sợ lạnh, phát nhiệt, đầu đau, không ra mồ hôi) mà lý nhiệt cũng rõ (họng đau, hột họng sưng đỏ, đầu lưỡi đỏ, miệng khô) gọi là “hàn bao hỏa” thì có thể bỏ Độc hoạt, Xuyên khung, thêm Ngân hoa, Liên kiều, Ngưu bàng, Bản lam căn, Lô căn là thuốc thanh nhiệt để giải biểu thanh lý, trẻ em cảm  mạo, sốt cao, lại giật mình buồn bực, lúc dùng bài thuốc này có thể thêm Thiền y, Câu đằng, Chu sa, Đăng tâm.


HƯƠNG NHU ẨM
(Phụ: Hoàng liên Hương nhu ẩm)
« Hòa lợi cục phương »
Thành phần:
1. Hương nhu 4-12 gam
2. Bạch biển đậu 12 gam
3. Hậu phác 4-8 gam
Cách dùng: Bài này vốn là bài tán, mỗi lần dùng 12-20 gam sắc lên uống nguội. Ngày nay dùng làm thuốc thang, sắc thuốc. Nếu bị nôn thì uống nguội còn thì uống nóng, một ngày 2 lần.
Công dụng: Phát hãn giải biểu, trừ thử, hóa thấp, hòa trung.
Chữa chứng bệnh: Bài này thường dùng trong mùa hè, dùng chữa phong hàn trú ở biểu, thử thấp cản ở lý. Mùa hè thu cảm mạo, vị tràng viêm. Phong hàn trú ở biểu là sợ lạnh, phát nhiệt, đầu đau, không ra mồ hôi, mạch phù. Thử thấp cảm ở lý là ngực buồn, buồn lợm thậm chí nôn mửa, đau bụng đi tả, rêu lưỡi nhờn.

Giải bài thuốc: Tính của Hương nhu là tân ôn, có tác dụng phát hãn giải biểu mạnh đồng thời có thể lợi thấp, khử thử cho nên là bài giải biểu thường dùng chữa thử thấp. Hương nhu và Hậu phác là tân  ôn táo thấp sau khi phối hợp với Bạch biển đậu để kiện tỳ hòa trung thì bài thuốc này không chỉ là đơn thuần giải biểu mà còn có tác dụng hóa thấp trệ, hòa tràng vị nữa. Cho nên về mùa hè thu, mắc bệnh đường tiêu hóa bị cảm nhiễm, vị tràng viêm, kiết lỵ, thường lấy bài thuốc này làm cơ sở để gia giảm.
Cách gia giảm: Người bị ngoại biểu tà mà lý thấp hóa nhiệt, sốt cao, miệng khát rêu lưỡi vàng nhờn hoặc mép lưỡi tấy đỏ, có thể bỏ Biển đậu gia Hoàng liên (tức Hoàng liên hương nhu ẩm, cách phân giải ở bài phụ); lúc ngực tức, bụng chướng, đau bụng có thể thêm Mộc hương, Sa nhân, Hoắc hương, Chỉ xác; thấp trệ nặng mà đau bụng, đi tả, lý cấp hậu trọng có thể gia Mộc hương, Binh lang, Hoàng cầm, Hoàng liên.

Bài phụ:

Hoàng liên Hương nhu ẩm:
Tức là bài Hương nhu ẩm bỏ Bạch biển đậu gia Hoàng liên (nguyên bài có Biển đậu nhưng thực tế chữa bệnh thường bỏ đi không dùng).
Phạm vi thích hợp với bài này là ngoài thì biểu hàn trong thì thấp nhiệt, nên ghép thêm Hậu phác, Hoàng liên để thanh nhiệt hóa thấp, khác với hóa thấp hòa trung ở bài Hương nhu ẩm. Hậu phác, Hoàng liên là thuốc chủ yếu để thanh hóa vị tràng thấp nhiệt, lúc đường tiêu hóa cam nhiễm mà thấy triệu chứng thấp nhiệt, thường dùng bài này.



NGÂN KIỀU TÁN
« Ôn bệnh điều biên »
Thành phần:  
1. Ngân hoa 40 gam 5. Liên kiều 40 gam
2. Đậu cổ 20 gam 6. Ngưu bàng 20 gam
3. Kinh giới 16 gam 7. Kiết cánh 24 gam
4. Cam thảo sống 5 gam 8. Lá tre 16 gam

Cách dùng: Định lượng vị thuốc nói trên là dùng lúc làm thuốc tán. Thuốc tán, mỗi lần dùng 24 gam, lấy thêm 2 nhánh Lô căn tươi sắc lên khi hơi thơm bốc thì lấy ra uống. Đừng đun quá để được khinh thanh phát tán. Người bệnh nặng, ngày uống 3 lần đêm 1 lần, bệnh nhẹ ngày 2 lần đêm 1 lần. Ngày nay dùng làm thuốc thang, đem sắc uống, ngày dùng 1-2 thang chia làm 2-4 lần uống.
Công dụng: Tân lương thấu biểu; thanh nhiệt giải độc.
Chữa chứng bệnh: Mới bị ngoại cảm nhiệt, lại phát nhiệt rét thì không ra mồ hôi hoặc ra ít, đau đầu, ho thở, họng đau, rêu lưỡi mỏng trắng, hoặc mép lưỡi ửng đỏ, mạch phù sác. Hiện nay chữa bệnh nếu ngoại cảm dẫn đến phát nhiệt, thường lấy bài thuốc này gia giảm thêm vị để dùng, chữa đường hô hấp trên bị cảm nhiễm tương đối tốt.
Giải bài thuốc: Bài thuốc này rất hay dùng khi chữa bệnh là một bài tiêu biểu về tân lương giải biểu. Dùng Đậu cổ, Ngưu bàng tử, Kinh giới, Bạc hà giải biểu phát hãn, khu tà ngoại xuất. Dùng Ngưu bàng tử, Kiết cánh, Sinh cam thảo để thanh tuyên phế khí mà lợi yết hầu để chữa ho, đau họng; Liên kiều, Ngân hoa, Lá tre để thanh nhiệt mà giải nhiệt độc; Lô căn sinh tân chỉ khát mà trừ vị nhiệt. Vì vậy, đặc điểm bài thuốc này là tân lương thấu phát; mới mắc bệnh ngoại cảm nhiệt, tà ở phế vệ đều dùng được.
Cách gia giảm: Rõ ràng là biểu chứng, không ra mồ hôi, rét dữ mà nhiệt cao có thể thêm Khương hoạt Tây hà liễu để tăng thêm tác dụng thấu biểu đạt tà; ra mồ hôi mà không giải nhiệt, có thể bỏ Kinh giới, Bạc hà thêm Hoàng cầm, Thạch cao; Phế khí không thông mà ho nhiều, có thể thêm Tiền hồ, Hạnh nhân, Tượng bối để thanh tuyên phế khí, mới bị lên sởi có thể thêm Phù bình, Thiền y để giải sởi liễn tà, cuống họng sưng đau nặng có thể thêm Xạ can, Mã bột, Qua kim đăng, Bản lam căn để giải độc lợi hầu, thấp cản trung tiêu mà ngực tức, đầy hơi muốn nôn có thể bỏ Cam thảo, Lô căn mà thêm

Hậu phác, Hoắc hương, Chỉ xác để hóa thấp sướng trung; chế vị nhiệt thịnh mà chảy máu mũi, khạc ra máu có thể thêm Mao căn, Hoàng cầm, Sơn chi để mát huyết thanh nhiệt; nhiệt thương tân dịch mà miệng khát lưỡi khô có thể thêm Thiên hoa phấn để sinh tân giải khát, ăn bị trệ mà bụng chướng miệng hôi, đi tả hoặc bí tiện có thể thêm Chỉ thực, Lục thần khúc, Sơn tra, Mạch nha để tiêu thực dẫn trệ.



  TANG CÚC ẨM
  « Ôn bệnh điều biện »
Thành phần:  
1. Tang diệp 6-12 gam 5. Cúc hoa 4-12 gam
2. Liên kiều 8-16 gam 6. Bạc hà 4-8 gam
3. Hạnh nhân 12 gam 7. Kiết cánh 4-12 gam
4. Sinh cam thảo 4-8 gam 8. Đô căn tươi 1 nhánh

Cách dùng: Thuốc thang, đem sắc uống, ngày dùng một thang chia làm 2 lần.
Công dụng: Sơ phong thanh nhiệt, thông phế.
Chữa chứng bệnh: Mới bị thương phong, cảm mạo, phát nhiệt rét dữ đau đầu, mũi tịt ho, rêu lưỡi mỏng, mạch phù.
Giải bài thuốc: Các vị thuốc bài này gần giống bài Ngân kiền tán, đều là thuốc tân lương giải biển ghép với các vị thuốc thanh nhiệt, kiêm thêm thanh tuyên phế khí là bài thuốc thường dùng để xua tán tà ở phế vệ nhưng vì bài này dùng thuốc giải biểu ít, chưa dùng Kinh giới, Đậu cổ mà chỉ dùng Tang diệp, Bạc hà nên chỉ xua tán được tà phong nhiệt tương đối nhẹ, tác dụng phát hãn thấu biểu kém hơn Ngân kiều tán; Trong thuốc thanh nhiệt chỉ dùng Liên kiều mà chưa dùng Ngân hoa thì tác dụng thanh nhiệt cũng yếu; về thuốc thông phế ghép dùng cả Kiết cánh, Sinh cam thảo, Hạnh nhân thì tác dụng thông phế hay hơn Ngân kiền tán. Do vậy, bài này là liều thuốc nhẹ tân lương giải cảm, thường dùng chữa ngoại cảm phong nhiệt mới bắt đầu, loại bệnh rét nhiều phát nhiệt nhẹ lại ho, mũi tịt, phế khí không thông.
Cách gia giảm: Người bị ho nhiều mà khí lại nghịch có thể thêm Tiền hồ, Tô tử, Tượng bối, Ngưu bàng để tăng thêm tác dụng thông phế giáng nghịch; ho nhiều đờm rêu lưỡi trắng nhờn có thể thêm Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Chỉ xác để thông hóa thấp đàm; ho có đờm mà da vàng, rêu lưỡi vàng hoặc lưỡi nổi hồng có thể thêm Hoàng cầm, Đồng qua tử, Tang bạch bì, Trúc lịch, Bán hạ để tiêu nhiệt hóa đàm; rét dữ mà phát nhiệt tuy không biểu hiện rõ mà đầu đau nhẹ là phong nhiệt quấy ở trên có thể thêm Bạch tật lê, Mạn kinh tử để xua tán phong nhiệt mà đầu và mắt thanh thoát. Ngoài ra khi bị ngoại cảm nhiệt đã uống Ngân kiền tán rồi, nhiệt đã thoát mà chưa thanh, có thể dùng bài này để thanh lý dư tà.






Thành phần:

SÀI CÁT GIẢI CƠ THANG
« Thương hàn lục thư »

1. Sài hồ 4-12 gam
2. Khương hoạt 8-16 gam
3. Kiết cánh 4-8 gam
4. Cam thảo 4-8 gam
5. Thược dược (Xích thược) 2-3 gam

6. Cát căn 8-16 gam
7. Bạch chỉ 4 gam
8. Hoàng cầm 8-16 gam
9. Thạch cao 20-40 gam

Cách dùng: Ngày dùng một thang đem sắc chia 2 lần uống.
Công dụng: Giải cơ thanh nhiệt.

Chữa chứng bệnh: Ngoại cảm mát nhiệt, biểu chứng chưa giải mà nhiệt bên trong lại thịnh biểu hiện sợ lạnh, tráng nhiệt, không ra mồ hôi, đau đầu, xương đau, mũi khô, môi khô, miệng đắng, buồn bực không yên, rêu lưỡi trắng, lưỡi ửng đỏ, mạch hoạt sác.
Giải bài thuốc: Bài này lấy Cát căn, Sài hồ để tân tán thanh nhiệt và lấy Khương hoạt để tân ôn phát biểu nhằm giải tỏa biểu tà để người và xương khỏi đau; dùng Bạch chỉ tân lương phát tán nên trừ được đau đầu, đau lưng. Hoàng cầm, Thạch cao thanh được nhiệt ở phế vị, Thược dược mát huyết thanh nhiệt, Cam thảo, Kiết cánh thông phế lợi hầu. Do đó, bài này thực tế là thuốc giải cả biểu lý, dùng để chữa bệnh biểu chứng nặng mà nhiệt bên trong lại thịnh.
Cách gia giảm: Nhiệt thịnh thương tân, lưỡi khô táo có thể thêm Thiên hoa phấn, Tri mẫu để sinh tân dưỡng vị; đã hạ nhiệt rồi thì bớt Thạch cao mà gia Hoàng liên, rét dữ mà nhiệt trong thịnh, lưỡi đỏ, có thể bỏ Khương hoạt, Bạch chỉ gia Ngân hoa, Liên kiều để thanh nhiệt giải độc.


KHƯƠNG BÀNG BỒ BẠC THANG
« Nghiệm phương »
Vị thuốc:

1. Khương hoạt 12-20 gam
2. Bồ công anh 20 gam

3. Ngưu bàng tử 12 gam
4. Bạc hà 4-8 gam


Cách dùng: Ngày dùng 1 thang, đun sôi 3-5 phút là được, chia làm 2-3 lần uống.
Công dụng: Giải biểu, thanh nhiệt giải độc.
Chữa chứng bệnh: Ngoại cảm phát sốt, cúm, đường hô hấp bị cảm nhiễm, hạt họng viêm, tuyến nước bọt viêm.
Giải bài thuốc: Đặc điểm ghép vị ở bài thuốc này là cùng dùng tân ôn và tân lương có tác dụng phát tán ngoại tà mạnh; Bồ công anh thanh nhiệt giải độc và Ngưu bàng tử thanh tuyên phế khí còn có tác dụng thông phế thanh nhiệt. Vì vậy bài này thường chữa bệnh cảm cúm lây lan, đường hô hấp trên cảm nhiễm, đường tiêu hóa cảm nhiễm hoặc bị thấp trệ cản trở, cần gia thêm các vị hóa thấp, đạo trệ, hòa vị v.v…
Cách gia giảm: Bị ho mà phế khí không thông có thể thêm Kiết cánh, Hạnh nhân, Tiền hồ; cuống họng sưng đau nặng có thể thêm Bản lam căn, Xạ can, Mã bột; ngực tức, vị đầy, buồn nôn rêu lưỡi  dày nhờn có thể thêm Hậu phác, Bán hạ, Chỉ xác, Lục khúc v.v…



KẾT LUẬN

1. Chương này chọn 13 bài thuốc kể cả 2 bài phụ và 4 loại thuốc chế sẵn đều là bài thường dùng trong chữa bệnh nhưng vì nó là bài thuốc tiêu biểu có đặc điểm về phối ghép các vị thuốc nên có thể nói nhiều về các phương pháp giải biểu, để tùy theo người bệnh nặng nhẹ thư gấp mà điều trị linh hoạt.
2. Bài thuốc giải biểu có thể chia ra 2 loại tân ôn giải biểu và tân lương giải biểu. Xem các bài thuốc ở trên thì thấy phân biệt giữa tân ôn giải biểu và tân lương giải biểu không chỉ khoanh trong dược tính cay ấm hoặc cay mát mà phải phân tích bài thuốc một cách toàn diện. Ví dụ trong bài Kinh phòng bại độc tán, vì dùng cả Khương hoạt và Độc hoạt nên sức tân ôn phát tán tương đối mạnh, tuy đồng thời dùng cả Sài hồ, Tiền hồ là vị khổ hàn tiết nhiệt, nó vẫn là bài tiêu biểu về tân ôn giải biểu; Trong bài Ngân kiều tán tuy lấy Đậu cổ, Kinh giới làm vị thuốc chủ yếu về tân ôn giải biểu nhưng lại ghép thêm Ngân hoa, Liên kiều là thuốc khổ hàn thanh nhiệt nên trở thành bài thuốc tiêu biểu cho tân lương giải biểu, lại như bài Khương bàng bồ bạc thang, tuy dùng Khương hoạt tân ôn nhưng phân tích cả bài thuốc nó vẫn thuộc phạm trù tân lương giải biểu.
3. Lúc dùng thuốc giải biểu chữa bệnh, ngoài việc xem xét người bệnh biểu hàn hoặc biểu nhiệt mà chọn tân ôn giải biểu hoặc tân lương giải biểu ra còn xem biểu chứng nặng hoặc nhẹ, có mồ hôi hoặc không mồ hôi để chọn vị thuốc giải biểu thích hợp. Ví dụ nếu trúng phong, cảm mạo, đau đầu, mũi tịt, ho mà nhẹ thì thường chọn thuốc giải biểu yếu như Kinh giới, Phòng phong, Tang diệp, Cúc hoa, Tô diệp, Xung bạch, Đậu cổ; nếu biểu chứng ở người bệnh rất rõ như rét dữ không ra mồ hôi, sốt cao, đau đầu, đốt xương và bắp thịt đau mỏi nên chọn thuốc giải biểu có tác dụng mạnh như Khương hoạt, Ngưu bàng, Cát căn, Hương nhu, Tây hà liễu, Phù bình, Bạc hà; phát sốt mồ hôi ra mà không giải được thì phải chuyển sang thanh nhiệt mà không giải biểu, có lúc dùng ít vị giải biểu nhưng chính vẫn là dùng thuốc phát biểu tác dụng yếu như Lá dâu, nước giá đậu trong; phát sốt mồ hôi ra không giải được mà rét nhiều, thường là triệu chứng biểu tà chưa giải được, ngoài việc chọn thuốc giải biểu có tác dụng yếu còn phải chọn thuốc thanh nhiệt và phát tán như Sài hồ, Thạnh cao cùng phối hợp sử dụng (cần phân biệt bệnh này với bệnh khí hư biểu vệ bất cố, tự ra mồ hôi sợ gió).
4. Trong bài giải biểu ngoài tân ôn giải biểu và tân lương giải biểu ra, còn có tư âm (dưỡng huyết) giải biểu, trợ dương ích khí, giải biểu, hóa ẩm giải biểu, thấu thấm giải biểu gọi là tư âm (dưỡng huyết) giải biểu; thực chất là khi sử dụng thuốc giải biểu như Đậu cổ, Cát căn, Tô diệp, Xung bạch, Bạc hà còn gia thêm các vị Địa hoàng, Mạch môn đông để dưỡng âm tăng dịch, người bệnh vốn bị thất huyết, thoát dịch lại mới bị thêm chứng ngoại cảm tà nên nguyên lý chủ yếu là: Mồ hôi làm cho tân dịch và máu biến hóa, lúc huyết hư tân dịch khô tất nhiên nguồn mồ hôi không đủ cho nên vừa phải bỏ âm tăng dịch mà phải giải biểu mới bổ sung được nguồn mồ hôi để tà ngoại cảm theo mồ hôi giải ra. Gọi là trợ dương (ích khí) giải biểu thực chất là dùng Phụ tử, Đảng sâm, Hoàng kỳ là những vị thuốc ôn dương ích khí ghép vào với Khương hoạt, Tế tân là những vị thuốc giải biểu để chữa cho người bệnh dương khí vốn hư nhược. Tuy người bệnh bị ngoại cảm tà nhưng biểu hiện sắc mặt hoảng hốt, thần sắc lờ đờ, chân lạnh, mạch chìm... Nguyên lý chủ yếu là do dương khí không đủ không chống lại được ngoại tà cho nên vừa cho trợ dương ích khí vừa cho phát hãn giải biểu, bồi bổ đủ dương khí trong người mới trục tà ra ngoài, toát mồ hôi mà giải cảm.
Còn như hóa âm giải biểu thực chất là ôn phế hóa âm, thuộc loại giáng nghịch bình suyễn.
Thấu thấm giải biểu, chủ yếu là chọn mấy vị thuốc tân lương giải biểu có tác dụng phát biểu tương đối mạnh như Ngưu bàng tử, Phù bình, Cát căn ghép thêm vị thuốc thăng tán như Thăng ma để chữa cho người lên sởi đậu không tốt, loại này thuộc về tân lương giải biểu.
Mấy cách biến hóa trên, trong thực tế chữa bệnh gặp phải không nhiều nên không giới thiệu thành bài thuốc chuyên.
5. Người xưa cho rằng Ma hoàng thang và Quế chi thang là bài thuốc tiêu biểu về tân ôn giải biểu. Bài trước chữa phát sốt, sợ lạnh không ra mồ hôi, bài sau chữa phát sốt sợ gió có ra mồ hôi, nhưng căn cứ vào thực tế chữa bệnh ngày nay tác dụng giải biểu ra mồ hôi, giảm sốt của Ma hoàng thang không tốt bằng Thông phế bình suyễn nên thường dùng để chữa bệnh ho mà không dùng giải biểu; bài Quế chi thang nguyên gốc là điều hòa dinh vệ mà không phải chữa giải biểu cho nên chương này không đưa vào.


Phụ: THUỐC CHẾ SẴN

1. CẢM MẠO PHIẾN
Thành phần:

1. Kiết cánh
2. Bạc hà
3. Cam thảo

4. Kinh giới
5. Kim ngân hoa
6. Ngưu bàng tử

7. Đậu cổ non
8. Liên kiều
9. Lá tre non

10. Lá dâu
11. Câu đằng
12. Bạch cúc hoa

Thuốc này chế thành phiến, mỗi lọ 18 viên.
Cách dùng: Ngày dùng 3 lần, mỗi lần 6 phiến, uống với nước chín.
Công dụng: Tân lương giải biểu, thanh nhiệt tuyên phế.
Chữa chứng bệnh: Trúng gió cảm mạo.




Thành phần:
1. Kim ngân hoa
2. Liên kiều
3. Cam thảo

2. NGÂN KIỀU GIẢI ĐỘC HOÀN

4. Kinh giới
5. Kiết cánh
6. Đậu cổ non




7. Bạc hà
8. Ngưu bàng tử
9. Lá tre non

Thuốc này chế thành hoàn, còn có lúc chế thành phiến gọi là “Ngân kiều giải độc phiến”, mỗi gói 15 phiến.
Cách dùng: Loại hoàn mỗi lần dùng 1 hoàn, ngày 2-4 lần, loại phiến mỗi lần dùng 4 phiến ngày 2-4 lần.
Công dụng: Tân lương giải biểu, thanh nhiệt tuyên phế.
Chữa chứng bệnh: Cảm mạo phát sốt.

3. NGỌ THỜI TRÀ
Thành phần:

1. Mao truật
2. Bạnh chỉ
3. Lục khúc
4. Mạch nha
5. Trần bì

6. Chỉ thực
7. Phòng phong
8. Xuyên khung
9. Tử tô
10. Sài hồ

11. Thổ hoắc hương
12. Sơn tra
13. Hậu phác
14. Hồng trà diệp
15. Liên kiều

16. Khương hoạt
17. Kiết cánh
18. Cam thảo

Cách dùng: Mỗi lần dùng 1-2 bánh (nửa gói đến một gói) bọc vào vải sắc với nước uống.
Công dụng: Phát tán phong hàn, hóa thấp tiêu đạo.
Chữa chứng bệnh: Phong hàn cảm mạo, hàn thấp trở trệ, thực tích nội trở.


4. THUỐC TIÊM SÀI HỒ
Thành phần:
1.    Bắc sài hồ 2. Tế tân
Cách dùng: Tiêm bắp, ngày 1-2 lần, người lớn lần đầu 4 ml, về sau mỗi lần 2 ml, trẻ con mỗi lần 2 gam.
Công dụng: Giải nhiệt thấu biểu.
Chữa chứng bệnh: Cảm gió độc, viêm phổi, viêm họng, thủy đậu, viêm tuyến nước bọt.

Tác giả bài viết: Lê Văn Sửu

Nguồn tin: Trung-Y Phương Tễ Lâm Sàng Thủ Sách

Những tin cũ hơn

 
.

Thông tin tại Website chỉ mang tính chất tham khảo, việc dùng thuốc và chữa bệnh phải tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ