Trang nhất » Chi hội HC » Tài liệu tra cứu » Bài thuốc

CHI HỘI ĐÔNG Y HC

Tin tổng hợp

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 14


Hôm nayHôm nay : 291

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3297

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3477333

ĐẶC KHU-CƠ TRỊ LIỆU

Thư viện HC

THUỐC TRẤN KINH

Chủ nhật - 22/12/2019 07:59
Thuốc trấn kinh có tác dụng bình can tức phong để trị các chứng tay chân co giật, đầu lắc lư, huyễn vựng, mồm mắt méo xệch, đau đầu, đau tứ chi v.v… thường dùng Toàn yết, Ngô công Địa long làm chủ dược. Nhưng có nội phong, ngoại phong khác nhau. Nếu bệnh thuộc nội phong nên phối hợp Câu đằng, Cúc hoa, Thiên ma, Thạch quyết minh, Linh dương giác để bình can, tức phong và tiềm dương.
Nếu thuộc về ngoại phong thì nên phối hợp Bạch phụ, Cương tàm, Chế Đởm tinh để thông kinh hoạt lạc.


CHI XINH TÁN
« Nghiệm phương »
Thành phần: Toàn yết, Ngô công đều bằng nhau nghiền nhỏ làm thuốc bột tiện dùng.

Cách dùng: Mỗi lần 0,6-1g ngày 2-4 lần, với nước nóng. Trẻ em theo tuổi mà giảm liều lượng.
Công dụng: Trấn kinh, chỉ thống.
Chủ trị: Tứ chi co giật, kinh quyết và chứng đau đầu dai dẳng (ngoan cố tính đầu thống), thiên đầu thống, đốt khớp đau nhức.
Giải bài thuốc: Toàn yết Ngô công sưu phong thông lạc, trấn kinh, định thống, phối hợp hai vị tác dụng càng tăng. Gần đây dùng phương này để trị trẻ em cấp mạn kinh phong tứ chi co giật, là nghiệm phương trị phong hàn tý bệnh. Phương này còn chữa được chứng não viên có dịch phát sinh ra kinh quyết co giật, nhất định có hiệu quả.
Gia giảm: Ở Thượng Hải dùng Chỉ kinh tán có hai loại phương thuốc.
1. Toàn yết, Ngô công đều 40 gam, Địa long 80 g.
2. Toàn yết, Ngô công đều 40 gam, Thiên ma 40 g, Cương tàm 80 gam.
Hai phương này cách dùng, công dụng và chủ trị giống phương Chỉ kinh tán.





Thành phần:

TRẤN CAN TỨC PHONG THANG

1. Ngưu tất 40 gam
2. Sinh giả thạch 40 gam
3. Sinh long cốt 20 gam
4. Sinh mẫu lệ 20 gam
5. Sinh Quy bản 20 gam
6. Sinh bạch thược 20 gam

7. Huyền sâm 20 gam
8. Thiên đông 20 gam
9. Xuyên luyện tử 8 gam
10. Sinh mạch nha 8 gam
11. Thanh hao (hoặc Nhân trần) 8 gam
12. Cam thảo 6 gam


Cách dùng: Ngày 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.
Công dụng: Trấn can, tức phong.

Chủ trị: Can dương Thượng xung, can phong nội động, mạch huyền kính hữu lục, huyễn vựng hay đau đầu phát sốt, mắt sưng tai ù, trong tâm phiền nhiệt, thường hay thở dài, cơ thể kém cảm giác, hoặc mồm mắt méo xệch, sắc mặt như say hoặc chóng mặt té ngã, mê không nhận người, một lúc lại tỉnh, hoặc tỉnh rồi không được như cũ, hoặc chân tay mềm yếu, hoặc thành thiên khô (liệt nửa người).
Giải bài thuốc: Phương này chủ trị các chứng thường gọi là: “loại trung phong” (ngoài não huyết quản). Phương này dùng lượng lớn Ngưu tất, Đại giả thạch để dẫn huyết hạ hành, bình giáng nghịch khí; Long cốt, Mẫu lệ, Quy bản, Thược dược tiềm dương, nhiếp âm, trấn can tức phong là thành phần chủ yếu. Huyền sâm, Thiên đông tư âm giáng hỏa; Thanh hao, Sinh mạch nha (dùng sống lý khí); Xuyên luyện tử sơ can lý khí. Cam thảo hoãn cấp hòa trung là các thuốc phò tá để tiết can điều can, hoãn can, giúp cho can dương bình giáng.
Gia giảm: Tâm trung nhiệt gia sinh Thạch cao 40 gam (hoặc gia Khổ đinh trà 8 gam, Long đởm thảo 8 gam) để thanh nhiệt, nhiều đờm gia Đởm tinh 8 gam-xích mạch trọng án hư là thận âm suy, gia Thục địa (hay Sinh địa) 32 gam, Sơn thù nhục 20 g để bổ thận âm, đầu váng mắt hoa gia Hạ khô thảo 16 g để bình can.







Thành phần:

THIÊN MA CÂU ĐẰNG ẨM
(Phụ: Linh dương câu đằng ẩm)
« Nghiệm phương »

1. Thiên ma 8 gam
2. Câu đằng 16 gam
3. Sinh thạch quyết minh 20 gam
4. Tang ký sinh 12 gam
5. Đỗ trọng 18 gam
6. Ngưu tất 12 gam
Cách dùng: Ngày 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.
Công dụng: Bình can tức phong.

7. Sơn chi 12 gam
8. Hoàng cầm 12 gam
9. Ích mẫu thảo 12 gam
10. Chu phục thần 12 gam
11. Dạ giao đằng 20 gam

Chủ trị: Can dương Thượng xung gây ra can phong nội động, huyễn vựng, đau đầu, đầu lắc, giật mình, mất ngủ.
Giải bài thuốc: Bản phương dùng Thiên ma, Câu đằng, Thạch quyết minh bình can dương, tức can phong, Sơn chi, Hoàng cầm tiết can hỏa. Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất bổ thận âm dưỡng can huyết, lại có tác dụng thông lạc. Dạ giao đằng, Chu phục thần dưỡng huyết an thần. Phương này có nhiều loại vị thuốc theo thực nghiệm dược lý có tác dụng hạ huyết áp.
Gia giảm: Thạch quyết minh có thể dùng Trân châu mẫu thay thế, tác dụng gần giống nhau, Ích mẫu có thể đổi dùng Tiểu kế thảo, tác dụng đều tốt. Chóng mặt nhiều gia Hạ khô thảo, Bạch tật lê.

Phụ phương:

Linh dương câu đằng ẩm:
Gồm Linh dương giác, Tang diệp, Xuyên bối, Sinh địa, Câu đằng, Cúc hoa, Sinh Bạch thược, Sinh Cam thảo, Tiên trúc nhự, Phục thần hợp thành tễ, có công năng lương can tức phong, thanh hóa đờm nhiệt.
Nguyên phương này dùng chữa ngoại cảm nhiệt bệnh, nhiệt cực động phong, kinh quyết, chân tay co giật, lưỡi khô có gai. Các vị thanh nhiệt, giải độc lương huyết không đủ sức, dùng chữa chứng nhiệt cực động phong e rằng thuốc không tới bệnh. Nhưng đối chứng can dương Thượng xung gây đau đầu chóng mặt giật mình... thì phương này thanh tiết can dương khá tốt.
Linh dương giác không thật cần thiết không dùng. Có thể dùng sơn dương giác hoặc Trân châu mẫu thay.




Thành phần:

ÂM GIÁC PHỤC MẠCH THANG
« Ôn bệnh điều biện »

1. Mẫu lệ 40 gam
2. Miết giáp 20-40 gam
3. Quy bản 20-40 gam

4. Chích thảo 12 gam
5. Đại sinh địa 20-40 gam
6. Sinh bạch thược 12-24 gam

7. Mạch đông 12-24 gam
8. Ma nhân 12 gam
9. A giao 16 gam

Cách dùng: Ngày dùng 1 thang sắc nước chia 2 lần uống.
Công dụng: Tư dưỡng tinh huyết, dục âm tiềm dương tức phong, trấn kinh.
Chủ trị: Sau khi ngoại cảm nhiệt bệnh, có chứng thương âm lưỡi đen, mạch tế sác vô lực, lòng bàn tay bàn chân nóng, kinh quyết, hoặc tay chân run rẩy, hồi hộp, hoặc tạp bệnh có chứng can thận bất túc, âm hư dương cang, xuất huyết, đầu váng mắt hoa, tai ù hạng khô, mạch tế huyền, lưỡi khô, trơn bóng.
Giải bài thuốc: Đây là phục mạch thang (Chích thảo, Can địa hoàng, Sinh bạch thược, Mạch đông, A giao, Ma nhân) gia Mẫu lệ, Miết giáp, Quy bản. Dùng Chích thảo phục hồi mạch. Phò tá có các thuốc tư nhuận, bổ âm lui được hư nhiệt. Lại gia thêm Mẫu lệ, Miết giáp, Quy bản để tiềm dương trấn kinh gọi là dục âm (nuôi dưỡng âm) tiềm dương, dưỡng huyết an thần, trị huyết hư âm tổn, phong dương vọng động.
Gia giảm: Bản phương thuần thuốc nhu nhuận, nên trong quá trình ngoại cảm nhiệt, nếu là nhiệt quá thịnh mà kinh quyết, nhiệt cực động phong là có thực chứng nên dùng Thanh vinh thang, hoặc Hoàng liên a giao thang gia Linh dương, Câu đằng, Tử tuyết đan, không nên dùng phương này, Trong phương, Quy bản, Miết giáp, Mẫu lệ, trừ Mẫu lệ ra, đều là vị nhu nhuận cho nên bất tất dùng cả. Nhu nhị giáp phục mạch là phương này bỏ Quy bản. Nhất giáp phục mạch thang là phương này bỏ Quy bản, Miết giáp, Ma nhân. Nếu mạch lui, tinh thần mệt mỏi muốn hư thoát, nên gia Ngũ vị tử, Kê tử hoàng gọi là “đại định phong châu” (hạt ngọc quí định được phong) có thể gia cả Nhân sâm (tức là Sinh mạch tán hợp dụng).

Phụ phương:
Linh dương giác thang:
Linh phương giác, Quy bản, Sinh địa, Đan bì, Bạch thược, Sài hồ, Bạc hà, Thiền thoái, Cúc hoa, Hạ khô thảo, Thạch quyết minh.
Phương này khác phương “Tam giáp phục mạch thang”: Tam giáp phục mạch trọng về tu dưỡng tinh huyết, nuôi âm tiềm dương. Còn phương trên một mặt dùng Địa hoàng, Cúc hoa, Quy bản để dục âm tiềm dương, mặt khác tập trung dùng Linh dương giác, Đan bì, Bạc hà, Thiền thoái, Cúc hoa, Hạ khô thảo, Thạch quyết minh, Sài hồ là trọng về bình can tức phong, trị chứng can thận bất túc, can dương thượng cang, can phong nội động biểu hiện các chứng: đau đầu chóng mặt kịch liệt mặt mắt môi lưỡi đều run, nặng nữa thì tứ chi co giật.


KHIÊN CHÍNH TÁN (1)
« Dương thị gia tàng phương »
Thành phần: Bạch phụ tử, Cương tàm, Toàn yết đều bằng nhau. Các vị nghiền bột mịn trộn đều  thành thuốc bột.
Cách dùng: Mỗi lần uống 4 gam, với rượu nóng, cũng có thể sắc nước làm thang uống. Trong phương này, có vị Bạch phụ tử tính độc, không nên uống quá liều.
Công dụng: Khư phong đàm, chống kinh làm co quắp.
Chủ trị: Mặt tê đau, mồm mắt méo xệch, gân cơ trên mặt máy động (gân rung thịt máy).
Giải bài thuốc: Phương này dùng Bạch phụ tử để tán phong tà ở vùng đầu mặt, Cương tàm khư phong đàm, Toàn yết tức phong trấn kinh, hai vị này hợp dụng, có công năng sưu phong thông lạc. Nếu dùng rượu mà uống thuốc, thì dẫn được sức thuốc của ba vị thượng hành. Đến thắng nơi có bệnh ở đầu mặt.

(1) Khiên: Dắt tức là dẫn cho qui về chính khí.

Phương này thích lợp chữa các chứng phong. Đàm làm trở ngại kinh lạc vùng đầu mặt. Không có chứng trạng toàn thân. Cổ nhân cho rằng 3 vị trên chạy thẳng lên lạc mạch vùng đầu mặt, khư phong hóa đàm, rất là đắc lực, không cần gia thêm vị thuốc khác. Nhưng nếu khí hư huyết ứ, hoặc xen phong nội động mà dẫn đến mồm mắt méo xệch (khẩu nhỡn oa tà). Hơn nữa 1 chi hoặc nửa người không cử động được, thì phương này không thể chuyên trị được.






Thành phần:
1. Bạch phụ tử   480 gam
2. Nam tinh 40 gam

NGỌC CHÂN TÁN
(Phụ: Ngũ hổ truy phong tán)
« Ngoại khoa chính tông »

3. Thiên ma 40 gam
4. Phòng phong 40 gam







5. Bạch chỉ 40 gam
6. Khương hoạt 40 gam

Cách dùng: Mỗi lần dùng 0,6-1 gam thuốc bột ngày 1-2 lần uống với rượu nóng hoặc với nước nóng, uống thuốc xong phải kiêng gió, quạt. Có thể dùng ngoài: hòa thuốc vào rượu hoặc giấm mà đồ.
Bạch phụ, Nam tinh dùng sống có tính độc, cho nên không được quá liều lượng.
Phụ nữ có mang cấm dùng.
Công dụng: Khư phong đàm, trấn kinh.
Chủ trị: Phá thương phong (uốn ván - tétanos) nha quan khẩn bế, giác cung phản trương (người ưỡn cong như cái ván gỗ vênh cong).
Giải bài thuốc: Phương này ở trong sách « Bản sự phương » chỉ có Nam tinh, Phòng phong để trị phá thương phong (sài uốn ván) người sau do kinh nghiệm lâm sàng gia Khương hoạt, Bạch chỉ, Thiên ma, Bạch phụ-Bạch phụ, Nam tinh khư phong đàm, Khương hoạt, Bạch chỉ, Thiên ma sơ tán phong tà trúng vào kinh lạc.

Phụ phương:
Ngũ hổ truy phong tán:
Là nghiệm phương lâm sàng gần đây. Gồm các vị:

1. Thiền thoái 40 gam
2. Nam tinh 8 gam
3. Minh thiên ma 8 gam

4. Toàn yết 7 con
5. Cương tàm sao 7 con

Ngày dùng 1 thang sắc nước uống. Trước khi uống thuốc, dùng Chu sa 2 gam uống với rượu trị phá thương phong nhất định hiệu quả. Loại có phương chỉ dùng độc vị là thiền (thuyền) thoái bỏ đầu, chân, cánh sao vàng tán thành bột 20 gam hòa với 80 gam rượu mà uống (sung phục). Đó là 1 liều trong 1 ngày.
Hoặc có khi dùng Thiền thoái 40 gam-60 gam hòa với lượng rượu bằng trong lượng thuốc rồi cho vào nước sắc uống. Ngày 1 thang.



KẾT LUẬN
Chương này lựa chọn 9 phương tễ (kể cả phụ phương).
Chỉ kinh tán chuyên về trấn kinh, bất luận là nội phong, ngoại phong đều dùng được. Trấn can tức phong thang, Thiên ma câu đằng ẩm và phụ phương là Linh dương câu đằng thang, Linh dương giác thang dùng để tức can phong. Tam giáp phục mạch thang chủ yếu dùng điều trị sau khi ngoại cảm nhiệt bệnh có hư phong nội động thuộc về trị nội phong. Khiên chính tán chuyên trị tê ở mặt. Ngọc phân tán và phụ phương Ngũ hổ truy phong tán chuyên trị phá thương phong, là thuốc chuyên trị ngoại phong.

Tác giả bài viết: Lê Văn Sửu

Nguồn tin: Trung-Y Phương Tễ Lâm Sàng Thủ Sách

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
.

Thông tin tại Website chỉ mang tính chất tham khảo, việc dùng thuốc và chữa bệnh phải tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ